Những điều cần biết khi thăm Nghĩa Trang Liệt Sĩ Quốc Gia Trường Sơn
Là người con của xứ Quảng, tôi thường nói với du khách rằng: Chưa đến Đồi Bến Tắt, chưa thắp nén nhang ở Nghĩa Trang Liệt Sĩ Quốc Gia Trường Sơn, bạn sẽ chẳng bao giờ thấu hiểu được vì sao mảnh đất này lại được gọi là ‘tọa độ linh thiêng’ của cả nước. Trên đỉnh đồi lộng gió, Nghĩa Trang Liệt Sĩ Quốc Gia Trường Sơn sừng sững như một biểu tượng của lòng biết ơn vô hạn. Đó là nơi tụ quân của hơn mười ngàn chiến sĩ từ khắp mọi miền Tổ quốc, họ về đây, bên nhau trong một mái nhà chung, giữa vòng tay bao bọc của đại ngàn xanh ngắt.
Vị trí giữa đại ngàn Trường Sơn
Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn tọa lạc trên đồi Bến Tắt, xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh (sau sáp nhập nay là xã Linh Trường, tỉnh Quảng Trị). Đây là nơi an nghỉ của các chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam, những người đã hiến dâng tuổi xuân trên tuyến đường Trường Sơn, con đường huyền thoại mang tên Bác Hồ.

Cổng vào Nghĩa Trang Liệt Sĩ Quốc Gia Trường Sơn
Từ ý nguyện của người lính đến “mái nhà chung” cho đồng đội
Quảng Trị có nhiều nghĩa trang, nhưng Trường Sơn luôn mang một vị thế rất riêng trong lòng mỗi người Việt. Vừa dứt tiếng súng vào năm 1975, khi đất nước còn chưa kịp hàn gắn vết thương, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vị Tư lệnh tài ba của bộ đội Trường Sơn đã mang trong mình một nỗi đau đáu: Phải tìm một nơi an nghỉ xứng tầm cho những đồng đội đã ngã xuống trên con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại.
Và thế là, đồi Bến Tắt được chọn. Công trình khởi công vào cuối năm 1975 và hoàn thành chỉ sau hai năm. Với diện tích 140.000m², đây không chỉ là một nghĩa trang, mà là một “biểu tượng của sự hội tụ”. Hơn mười ngàn ngôi mộ là mười ngàn người con từ khắp mọi miền Tổ quốc, từ vùng núi phía Bắc đến phù sa sông Cửu Long, tất cả đã cùng về đây, kề vai sát cánh như thuở còn ngoài trận địa.
Kiến trúc giản dị mà trang nghiêm
Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn là nghĩa trang liệt sĩ có quy mô lớn nhất Việt Nam, nhưng điều khiến nơi đây trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở con số hay diện tích, mà ở cách từng chi tiết kiến trúc được đặt vào không gian với một sự trân trọng lặng lẽ. Toàn bộ khu nghĩa trang được quy hoạch thành nhiều phân khu rõ ràng, hài hòa với địa thế đồi núi bao quanh, như thể thiên nhiên cũng cúi mình gìn giữ giấc ngủ cho những người đã khuất.
Tâm điểm của toàn bộ quần thể là Khu tưởng niệm, tọa lạc trên đỉnh một ngọn đồi cao hơn 32 mét so với cổng vào. Từ chân đồi bước lên, người viếng như đang bước dần vào chiều sâu của ký ức. Sáu bức phù điêu đá khắc họa hình ảnh các binh chủng Bộ đội Trường Sơn hiện lên mộc mạc mà mạnh mẽ, kể lại bằng đá câu chuyện của một thời lửa đạn.

Khu tưởng niệm tọa lạc trên đỉnh một ngọn đồi cao
Giữa sân là Đài Tưởng niệm bằng đá trắng, cao vút, uy nghi, thiết kế rỗng ruột và khuyết ba mặt như mở ra bốn phương trời để đón bước người về viếng. Phía sau tượng đài, một cây bồ đề tự mọc vươn tán xanh che chở, lặng lẽ như một chứng nhân của thời gian. Chuyện kể răng khi có ý định di dời để thuận tiện cải tạo, chính Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên dù tuổi đã cao vẫn trực tiếp vào Quảng Trị, tha thiết yêu cầu giữ lại. Ông viết: “Đây là một điềm lành của liệt sĩ an nghỉ nơi này. Mọi người hãy giữ lấy cây bồ đề thiêng.”

Đài Tưởng niệm bằng đá trắng, cao vút, uy nghi
Bao quanh đài là các khu mộ liệt sĩ được sắp xếp theo tỉnh, thành; mỗi khu gồm mộ của một đến ba địa phương, để những người con cùng quê hương lại được nằm cạnh nhau sau những năm tháng chiến tranh chia cắt. Bên trái đài “Tổ quốc ghi công” là khu mộ liệt sĩ vô danh với 68 ngôi những cái tên chưa kịp trở về, nhưng sự hy sinh thì đã hóa thành đất nước.

Những dãy mộ phần ngay ngắn, lớp lớp thẳng hàng
Từ khu tưởng niệm nhìn ra phía trước là mặt hồ lặng sóng, phản chiếu trời mây và bóng núi, tạo nên thế đất “địa linh” với đồi núi, sông suối bao bọc bốn bề. Khi khởi công, giữa ngọn đồi khô cằn, người ta bất ngờ gặp một mạch nước ngầm phun trào. Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên cho mở rộng thành hồ. Từ đó đến nay, dù nắng hạn khắc nghiệt, mặt hồ vẫn trong xanh, chưa từng cạn. Tôi không gọi đó là điều kỳ bí. Nhưng mỗi lần đứng bên hồ, nhìn mặt nước phẳng lặng soi bóng trời, tôi luôn có cảm giác như nơi đây được chở che bởi một nguồn năng lượng rất thiêng, như thể những người đã nằm lại đang âm thầm giữ cho mảnh đất này một mạch sống bền bỉ.
Mỗi phần mộ đều được xây dựng kiên cố, có sơ đồ mộ chí rõ ràng, được các quản trang chăm sóc cẩn trọng từng ngày. Đường nội khu lát đá, gạch hoặc tráng xi măng, hai bên là hàng cây xanh và những khóm hoa nở quanh năm, khiến không gian không hề lạnh lẽo, mà mang một vẻ yên bình, ấm áp đến lạ. Mỗi khu mộ đều có nhà tưởng niệm với dáng dấp kiến trúc phảng phất hình ảnh các vùng quê trên dải đất hình chữ S, như nhắc rằng các anh đã đến từ muôn miền, rồi cùng về lại một mái nhà chung.

Không gian không hề lạnh lẽo, mà mang một vẻ yên bình
Trong khuôn viên nghĩa trang còn có Đại Hồng Chung đặt tại tháp chuông quả chuông được đúc từ tâm nguyện của nhiều tổ chức, cá nhân khắp nơi. Trên thân chuông khắc bốn câu thơ của Giáo sư, Anh hùng Lao động Vũ Khiêu:
“Bát ngát Trường Sơn hồn liệt sĩ
Dạt dào Đông Hải khí anh linh
Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí
Muôn dặm non sông nặng nghĩa tình.”
Mỗi lần thỉnh chuông là một lần người sống gửi gắm lời cầu nguyện cho hương hồn liệt sĩ được an yên, cho đất nước mãi hòa bình, cho nhân dân được an lạc.
Tôi vẫn nhớ cảm giác của mình trong lần đầu đứng giữa hơn mười nghìn ngôi mộ trắng trải dài trên những triền đồi mênh mông. Dù đã nghe, đã đọc rất nhiều về Trường Sơn, nhưng chỉ khi có mặt ở đây, tôi mới thật sự cảm nhận được sự hy sinh lớn lao đến nhường nào. Hơn mười nghìn người con trai, con gái từ khắp ba miền đất nước, sau chiến tranh lại tụ hội về một nơi. Bước chân ai cũng chậm lại, tiếng nói tự khắc nhỏ đi, như sợ làm động giấc ngủ của những người đã nằm xuống.
Phần lớn các anh, các chị ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ mười tám, đôi mươi. Có người chưa kịp yêu, chưa biết đến nụ hôn đầu, đã gác lại gia đình, quê hương để lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc, giản dị và vô tư. Họ không trở về mái nhà xưa, mà ở lại với Trường Sơn, với đại ngàn, với đất mẹ.
Ngày nào nghĩa trang cũng mở cửa đón người dân, cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ và du khách thập phương đến thắp hương tưởng niệm. Có lúc tôi bắt gặp những cựu binh tóc bạc ngồi dưới gốc bồ đề, gảy đàn ghi-ta hát cho đồng đội nghe. Có khi là những bạn trẻ lặng lẽ thắp nén nhang trước những ngôi mộ khắc dòng chữ “chưa biết tên”. Những khoảnh khắc ấy khiến tim tôi se lại, rồi lại ấm lên. Trường Sơn nhắc tôi một điều rất thật: chiến tranh có thể hủy hoại thân xác, nhưng không bao giờ khuất phục được tình yêu Tổ quốc.
Một vài lưu ý khi viếng Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn
Để chuyến đi được trọn vẹn và giữ trọn sự trang nghiêm, du khách nên lưu ý:
- Trang phục: Ăn mặc lịch sự, kín đáo; tránh màu sắc quá sặc sỡ để thể hiện sự tôn kính.
- Thái độ: Giữ trật tự, không cười đùa lớn, không xả rác.
- Chi phí: Miễn phí vé vào cổng. Nếu đi theo đoàn, có thể đóng một khoản nhỏ (khoảng 200.000 VNĐ/đoàn) để chuẩn bị hương, hoa dâng mộ.
- Thời tiết: Mùa hè nên mang mũ, nước uống; mùa mưa nhớ chuẩn bị ô hoặc áo mưa.
Nếu có dịp ghé Quảng Trị, xin hãy dành cho mình một buổi chiều thật lặng để lên đồi Bến Tắt. Đến không phải để chụp hình cho đẹp, mà để cúi đầu, để biết ơn, và để hiểu rằng bình yên hôm nay được đánh đổi bằng cả một thế hệ đã hóa thân vào đất mẹ Trường Sơn.